Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng dịch vụ công trực tuyến góp phần thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số tỉnh Bình Thuận
(stttt.binhthuan.gov.vn)
Thời gian
qua, Sở Thông tin và Truyền thông đã tích cực tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo các
sở, ban, ngành, địa phương tập trung, quyết liệt triển khai các giải pháp với
nhiều hình thức đa dạng, phong phú để tăng cường cung cấp và thúc đẩy khai
thác, sử dụng hiệu quả dịch vụ công trực tuyến (DVCTT), thanh toán trực tuyến
và dịch vụ bưu chính công ích trên địa bàn tỉnh đạt chất lượng, hiệu quả phục
vụ người dân, doanh nghiệp.
(Ảnh minh họa. Nguồn Internet)
Theo đó, kết quả đến nay tỉnh đã
đầu tư và triển khai sử dụng cho 17/19 cơ quan chuyên môn thuộc
UBND tỉnh (trừ Thanh Tra tỉnh và Văn phòng UBND tỉnh), 10/10 đơn vị cấp huyện
và 124/124 đơn vị cấp xã với tổng số 650
DVCTT/1875 tổng số TTHC tỉnh, đạt 34 % (trong đó 316 DVCTT toàn trình và 334 DVCTT một phần theo Nghị
định số 42/2022/NĐ-CP ngày 24/6/2022 của Chính phủ); hoàn
thành kết nối, tích hợp, liên thông và chia sẽ dữ liệu giữa Hệ thống thông tin
giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) tỉnh với: Cổng dịch vụ công Quốc gia, Cơ
sở dữ liệu Quốc gia về dân cư theo Đề án 06, hệ thống thu thập đánh giá việc sử
dụng thông tin và dịch vụ công trực tuyến Quốc gia, dịch vụ thanh toán trực
tuyến của Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin của Bộ Tư Pháp, Bộ Kế
hoạch đầu tư, Bộ Tài chính, Hệ thống thông tin Zalo…nhằm khai thác sử dụng dữ
liệu dân cư, đồng bộ trạng thái hồ sơ giải quyết TTHC của tỉnh với các hệ thống
của bộ, ngành, Trung ương, công bố, công khai kết quả giải quyết TTHC; áp dụng
linh hoạt dịch vụ hành chính công trực tuyến kết hợp với trả kết quả qua hệ
thống bưu chính tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp; việc tuyên truyền
về DVCTT đã được các cấp, các ngành quan tâm, áp dụng nhiều biện pháp, hình thức
phổ biến như: thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, Cổng Thông
tin điện tử của tỉnh, Trang thông tin điện tử của các Sở, ban, ngành và UBND
cấp huyện, Báo Bình Thuận, Đài phát thanh và truyền hình tỉnh và hệ thống
truyền thanh cơ sở…
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt
được, việc triển khai sử dụng DVCTT của tỉnh còn một số hạn chế, chưa đạt được
như kỳ vọng của tỉnh. Tỷ lệ DVCTT có phát sinh hồ sơ và tỷ lệ hồ sơ trực tuyến
chưa cao (Trong năm 2022: có 325/650
DVCTT có phát sinh hồ sơ trực tuyến, đạt 50%; toàn tỉnh tiếp nhận 59.967 hồ sơ
trực tuyến/266.344 hồ sơ, đạt 22,51%. Quý I/2023: có 212/650 DVCTT có phát sinh
hồ sơ trực tuyến, đạt 32,3%; toàn tỉnh tiếp nhận 23.881 hồ sơ trực tuyến/74.256
hồ sơ, đạt 32,16%;), người dân và doanh nghiệp chưa
quan tâm nhiều việc nộp hồ sơ giải quyết TTHC bằng hình thức trực tuyến; nhiều
DVCTT cả năm không phát sinh hồ sơ do người dân, doanh nghiệp không có nhu cầu
sử dụng. Nguyên nhân chủ yếu là do một số sở, ban, ngành, địa phương chưa thực
sự quyết tâm, quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo tuyên truyền, triển
khai thực hiện DVCTT; một bộ phận cán bộ, công chức, người dân và doanh nghiệp
nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc về vai trò, ý nghĩa và lợi ích của DVCTT; quy định pháp lý về văn bản điện tử
trong giải quyết TTHC chưa đồng bộ (như bản sao, công chứng….); trình độ và điều kiện sử
dụng thiết bị công nghệ thông tin của người dân đặc biệt là khu vực nông thôn
còn rất nhiều hạn chế và thiếu.
![]()

(Ảnh minh họa. Nguồn
Internet)
Để nâng cao hiệu quả cung cấp, sử
dụng DVCTT, đảm bảo chỉ tiêu tối thiểu 80% TTHC cấp tỉnh, huyện, xã đủ điều kiện cung cấp DVCTT
một phần, toàn trình; tối thiểu 35% hồ sơ TTHC được tiếp nhận, xử lý trực tuyến trong
năm 2023 theo yêu cầu, quy định của UBND tỉnh và Chính phủ. Các sở,
ban, ngành, địa phương cần tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện một số nhiệm
vụ, giải pháp trọng tâm sau:
1. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, các sở, ban, ngành và
địa phương quyết liệt, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ
chức triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả cung cấp,
khai thác, sử dụng DVCTT, thanh toán trực tuyến của tỉnh đã được Bộ
Chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh ủy,
UBND tỉnh ban hành để nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ người dân,
doanh nghiệp.
2. Về tuyên truyền:
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền; hướng dẫn, hỗ trợ
người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành,
cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người dân và doanh nghiệp về lợi tích
khi tham gia thực hiện nộp hồ sơ xử lý thủ tục hành chính bằng hình thức trực
tuyến, thanh toán trực tuyến tại địa chỉ https://dichvucong.binhthuan.gov.vn.
- Nâng cao hiệu quả hoạt
động của Tổ công nghệ số cộng đồng, đưa nền tảng số, công nghệ số, kỹ năng số
đến người dân và trọng tâm là hướng dẫn, hỗ trợ người dân khai thác, sử dụng
hiệu quả dịch vụ công của tỉnh.
3. Về hạ tầng, thiết bị: khẩn trương
triển khai đầu tư hiệu quả hệ thống thiết bị (máy tính để bàn, máy scan, máy
in…) theo Đề án đã được phê duyệt tại Quyết định 445/QĐ-UBND ngày 13/3/2023 của
UBND tỉnh; trang bị máy tính để bàn có kết nối Internet và hệ thống Wifi miễn
phí tại Trung tâm Hành chính công tỉnh và bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp
huyện, cấp xã để cán bộ bộ phận một cửa hướng dẫn nộp hồ sơ trực tuyến hoặc
phục vụ nhu cầu nộp hồ sơ trực tuyến của người dân, doanh nghiệp.
4. Về cơ chế chính sách:
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể
chế, các văn bản, các quy định nhằm đảm bảo tính pháp lý của các DVCTT; thực
hiện các biện pháp tăng cường sự bảo đảm về an toàn và bí mật thông tin của các
cá nhân khi sử dụng DVCTT. Đồng thời, các sở, ngành địa phương cần có giải pháp khuyến khích, tạo điều kiện
thuận lợi thúc đẩy cơ quan, tổ chức, người dân và doanh nghiệp tăng cường sử
dụng dịch vụ công trực tuyến như: ban hành quy định khuyến khích, chính sách
giảm phí, lệ phí; rút ngắn quy trình, thời gian xử lý;
rà soát, chuẩn hóa quy trình danh mục DVCTT có yêu cầu bãi bỏ nộp sổ hộ khẩu,
sổ tạm trú; ban hành danh mục DVCTT thực hiện thí điểm bắt buộc các tổ chức, cơ quan, đơn vị trong hệ
thống cơ quan nhà nước phải nộp hồ sơ bằng hình thức trực tuyến một phần hoặc
toàn trình (không tiếp nhận hồ sơ bằng hình thức trực tiếp)…
- Giao chỉ tiêu dịch vụ công trực
tuyến và cam kết chỉ đạo, quán triệt đến 100% cán bộ,
công chức, viên chức, lực lượng vũ trang thực hiện dịch vụ công trực tuyến,
thanh toán trực tuyến và tuyên truyền, vận động người thân, công dân tại nơi
làm việc và cư trú sử dụng dịch vụ công trực tuyến thay thế cho hình thức nộp
hồ sơ trực tiếp, gắn trách nhiệm với người đứng đầu cơ quan, đơn vị để
cung cấp, sử dụng dịch vụ công trực tuyến hiệu quả hơn.
5. Về ứng dụng: Rà soát, nâng
cấp, hoàn
thiện Hệ thống thông tin giải quyết TTHC tỉnh đảm bảo
nghiên cứu triển khai Trợ lý ảo hướng dẫn, hỗ trợ người dân sử dụng dịch
vụ công trực tuyến. Hoàn thiện kết nối, khai
thác dữ liệu hiệu quả các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, nhất là cơ sở
dữ liệu quốc gia về dân cư theo Đề án 06, Kho dữ liệu
điện tử của tổ chức, cá nhân trên Cổng Dịch vụ công
quốc gia,… để giảm giấy tờ cho người dân, doanh nghiệp, hướng tới người
dân, doanh nghiệp chỉ phải cung cấp dữ liệu một lần cho cơ quan nhà nước khi
thực hiện dịch vụ công trực tuyến.
6. Về đào tạo, phát triển nguồn nhân
lực: Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức làm việc tại bộ
phận tiếp nhận và trả kết quả các cấp cũng như đội ngũ cán bộ đầu mối kiểm soát
TTHC các cấp. Tập huấn việc sử dụng phần mềm DVCTT của tỉnh, tổ chức các hội
nghị chia sẻ kinh nghiệm, các lớp bồi dưỡng, tập huấn về kỹ năng, nghiệp vụ;
đảm bảo cho đội ngũ công chức, viên chức này có trình độ, năng lực, kiến thức
thực tiễn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
7. Về kiểm tra, giám sát: Tăng cường
kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức, viên chức, lực
lượng vũ trang trong thực hiện dịch vụ công trực tuyến, thanh toán trực tuyến;
giám sát chất lượng, thời gian giải quyết các hồ sơ đăng ký qua mạng
trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tỉnh; lấy kết quả thực
hiện dịch vụ công trực tuyến, thanh toán trực tuyến làm một trong các tiêu chí
đánh giá, bình xét thi đua khen thưởng hàng năm tại cơ quan, đơn vị.
8. Các sở,
ban, ngành, địa phương duy trì thường xuyên theo dõi, cập nhật dữ liệu, khai
thác sử dụng hiệu quả các hệ thống thông tin, nhất là đối với các hệ thống
thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ
sở dữ liệu chuyên ngành, đảm bảo dữ liệu "đúng,
đủ, sạch, sống"; tập trung đẩy mạnh việc số hóa, xây dựng cơ sở dữ
liệu theo nguyên tắc lựa chọn lĩnh vực trọng tâm, tần
suất khai thác sử dụng nhiều, bảo đảm tính an toàn, liên thông, kết nối và chia
sẽ dữ liệu dùng chung; mở dữ liệu và cung cấp dữ liệu mở cho các cơ quan
nhà nước, doanh nghiệp và công dân khai thác sử dụng theo quy định.
9. Nhà nước và doanh nghiệp cùng vào
cuộc: hỗ trợ đào tạo, nâng cao kỹ năng, trình độ sử dụng máy tính, Internet cho
người dân; hỗ trợ máy tính; điểm truy cập Internet công cộng; Hệ thống mạng
Wi-Fi miễn phí tại các khu vực đông dân cư đế người dân tiếp cận dịch vụ. Hợp
tác với các doanh nghiệp như Bưu điện, ngân hàng để hỗ trợ triển khai DVC trực
tuyến như chuyển trả kết quả qua Bưu điện, thanh toán phí, lệ phí trực tuyến,…
10. Ưu tiên bố trí đủ nguồn lực để
duy trì, xây dựng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu
dùng chung của tỉnh, công tác đảm bảo an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu cũng
như công tác chuyển đổi số của tỉnh nói chung./.